thi sảnh nằm ở trên giường, hành động vẫn không tiện, thấy nhiếp nhiên đi tới, cô ta ngẩn ra rồi cười, "tôi đã nói mà, nhiếp nhiên đầu có thể dễ bị hãm hại, hà giai ngọc còn không tin tôi, ngày nào cũng đi vòng vòng trong lều, làm tôi chóng cả mặt." "hai người một người chóng mặt một người đau đầu, tôi thấy hay là bảo tống nhất thành cho hai …
Trước đây, cô Hunter đã được cảnh báo về những mối nguy hiểm khi để con nhỏ nằm ngủ chung giường cách đây một năm sau cái chết của con đầu lòng. Theo ông Clausing, do cô Hunter đã được cảnh báo từ trước nên cái chết của con gái thứ 2 bị xem là ngộ sát.
191 Thuở xưa, có một ông trưởng giả có đến bốn bà vợ. Thói thường người ta bảo: "Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ngủ chuồng heo…" Thế nhưng ông trưởng giả của chúng ta là một người tốt số và khéo cư xử nên đối với bốn bà ông đều được thương yêu quý trọng.
- Sách có câu: Một vợ nằm "giường lèo", hai vợ ngủ chèo queo, ba vợ thì ngủ chuồng heo một mình! - Nằm giường lèo, sao mà đã-đíu?! - Giường lèo, nó có "bộ máy quây" để quây vòng vòng… - Cho qua cái giường lèo, tụi hỏi nè, ông học thành tài hôn? - Nói là vậy, nhưng coi bộ cũng…hỏng êm luôn, thầy bèn dẩn tao qua Xiêm.
Là một đặc sản ẩm thực xuất xứ từ người Khmer, trong quá trình cộng cư của các dân tộc Khmer, Việt, Hoa và sự giao thoa trong ẩm thực, bún nước lèo trở thành món ăn chung của các dân tộc miền Nam Việt Nam với nguyên liệu, quy trình chế biến và thưởng thức, khẩu vị về cơ bản là giống nhau.
. "Lèo" là cái gì mà phải xả? Nghe hỏi, nhiều người ngần ngừ, lật đật lật từ điển tra cứu xem sao. Thì đây, lèo là dây nối từ cánh buồm đến chỗ người lái thuyền để lựa gió cho thuyền đi. Nói rõ hơn một chút, có hai loại lèo "lèo dùi" và "lèo thẳng". Nếu không giải thích, khi đọc/học thơ của Lê Thánh Tông, đến câu này ắt lại ngắc ngứLèo ăn gió, dầu dùi thẳngCánh phơi mây, mặc lộng khơi"Lèo ăn gió", có thể hiểu lèo đã được gió, hoàn toàn theo đúng hướng gió, no gió; do đó, bất chấp cả "dùi thẳng". Từ điển của Huình Tịnh Paulus Của giải thích "Dùi thẳng Chiều theo sự thể, lần hồi, không quyết bề nào". Ta hiểu là sự nhùng nhằng, không dứt khoát, rạch ròi, chưa đâu vào đâu. Vậy nên, phải có dấu phết , giữa dùi và thẳng mới rõ nghĩa người đi thuyền hoàn toàn chủ động theo ý thích, dầu/dù "lèo dùi" dây dùn, không săn, không thẳng hay "lèo thẳng" đi nữa cũng không sao vì "lèo" đã "ăn gió", no gió, căng rằng, do không nắm rõ ngữ nghĩa trên nên các bản in đều ghi liền mạch "dùi thẳng". Hơn nữa hai câu thơ trên đối xứng từng chữ, vậy phải "dùi" và "thẳng" mới đối được với "lộng" và "khơi", hai từ tách biệt. Thành ngữ có câu "Vào lộng ra khơi" là vậy."Lèo lái" là động tác giữ lấy dây lèo, bánh lái để thuyền chạy đúng hướng. Khi nói "co chân chạy một lèo", lèo ở đây xuất phát từ hình ảnh chiếc thuyền chạy một bề, không phải trở buồm, cứ thế mà chạy một hơi, chạy một mạch."Xả lèo" trong câu "Xin anh bớt ngọn, xả lèo chờ em", ông Huỳnh Công Tín lý giải rành mạch trong "Từ điển từ ngữ Nam Bộ" "Buông sợi dây chằng buồm, cho buồm bớt căng gió để thuyền ghe giảm tốc độ"; chứ không phải "Tháo sợi dây chằng buồm cho buồm căng gió" như "Đại từ điển tiếng Việt" đã giải mối quan hệ xã hội, có không ít lần ta bực mình vì gặp người "hứa lèo". Họ hứa hẹn "chắc như đinh đóng cột" nhưng kết quả "Ba voi không được bát nước xáo", chỉ hứa hươu hứa vượn. "Hứa lèo" là hứa cuội, hứa hão, nói tắt một lời là xạo ke "Nói lời rồi lại ăn lời được ngay" Truyện Kiều.Còn "giường lèo" thì sao? "Đêm rằm mười sáu trăng treo/ Anh đóng giường lèo, lấy vợ Lái Thiêu". Tục ngữ cũng có câu "Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chuồng heo, ba vợ nằm chèo queo". "Giường lèo" là loại giường có chạm trổ tinh vi, làm bằng gỗ miền Nam, nhiều người mê món "bún nước lèo". Chẳng hạn, ở Sóc Trăng dùng mắm cá sặt còn ở Trà Vinh dùng mắm bò hóc để nấu nước lèo. Loại nước này, người Bắc gọi "nước xuýt" - nước luộc thịt, luộc lòng, hầm xương có mùi vị thơm ngon. Gọi "nước dùng" cũng không sai. Rõ ràng, tùy vùng miền, tên gọi có khác người đàn ông bụng phệ, to tổ chảng do uống nhiều bia thì cái bụng đó bị gọi là "thùng nước lèo".
Giường lèo mà trải chiếu mây Giường lèo mà trải chiếu mây Làm trai hai vợ như dây buộc mình Cùng thể loại Chồng chài, vợ lưới, con câu Chồng chài, vợ lưới, con câu, Sông Ngô bể Sở biết đâu là nhà. Trồng cây ai nỏ muốn cây xanh Trồng cây ai nỏ muốn cây xanh, Cha mẹ sinh thành ai nỏ muốn con nên? Áo rách thì để thịt ra Áo rách thì để thịt ra Chị gần không khỏi em xa không chào Mẹ ru con ngủ cho ngoan Mẹ ru con ngủ cho ngoan, Mẹ còn xúc nốt xe than cho đầy, Mẹ ru con ngủ cho say, Làm xong chuyến nữa nghỉ tay mẹ về Ngó lên tam sơn, nguồn cơn cảm động Ngó lên tam sơn, nguồn cơn cảm động, Ngó về tứ hải, biển rộng sông dài; Ơi người tảo tần nuôi mẹ hôm mai, Trong tâm ảo não, nhớ nhau hoài không quên. Ba đồng một quả đậu xanh Ba đồng một quả đậu xanh, Một cân đường cát, đưa anh ra vời Nửa đêm ra đứng giữa trời Nửa đêm ra đứng giữa trời, Cầm tờ giấy bạch chờ lời mẹ răn Ở nuôi cha mẹ trọn niềm Ở nuôi cha mẹ trọn niềm, Bao giờ trăng khuyết lưỡi liềm sẽ hay. Vui đâu cho bằng vui nhà Vui đâu cho bằng vui nhà, Có con có vợ mới là thật vui. Dạy con nhủ vợ mọi lời, Gốc kia vững chắc thì chồi mới xanh. Anh ơi gà đã gáy dồn Anh ơi gà đã gáy dồn, Dậy đi xúc ốc đồng Tròn, đồng Quang, Rổ sề, rổ sảo, rổ sàng Vợ bưng, chồng gánh kịp hàng chợ phiên Có cùng từ khóa Chiếu bông chiếu trắng chiếu ngắn chiếu dài Chiếu bông chiếu trắng chiếu ngắn chiếu dài Tự em trải chiếu cho em ngồi Gá duyên không đặng bồi hồi lá gan Vè bán chiếu Ai mua chiếu hông Chiếu bông chiếu trắng Chiếu vắn chiếu dài Chiếu dệt lầu đài Cổ đồ bát bửu Chiếu tây hột lựu Da lợn bông bao Chiếu rộng màu cau Con cờ, mặt võng Dệt bông chong chóng Ngũ sắc, bá huê Đẹp hết chỗ chê Ngôi sao, tùng lộc Chiếu trải giường hộc Chiếu trải giường Tàu Chiếu trải giường trước Chiếu trải giường sau Chiếu nào cũng có đủ Trong gia chủ ai muốn mua thì mua Một tấm thanh tre là nghĩa Một tấm thanh tre là nghĩa, Một chiếc chiếu là tình, Bấy lâu nay em thương bóng nhớ hình, Bây giờ em hỏi thiệt anh có thương mình hay không? Nằm giường lèo lại đòi trèo trướng phụng Nằm giường lèo lại đòi trèo trướng phụng Dẫu ai trề nhún, nó cũng làm ngang Một khi bị đạp xuống sàn Ngủ chung với chó, còn than nỗi gì Anh như tán tía tàn vàng Anh như tán tía tàn vàng Em như manh chiếu rách bà hàng bỏ quên Lạy Trời cho cả nước lên Cho manh chiếu rách lên trên tàn vàng Một vợ thì nằm giường lèo Một vợ thì nằm giường lèo Có gối tai bèo, sáo rủ, màn treo Hai vợ thì nằm chèo queo Ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm Đêm nằm đắp chiếu bịt bùng Đêm nằm đắp chiếu bịt bùng, Tai nghe tiếng hát dậy vùng ra đi. Con rồng nằm bãi cát bày vi, Vì chưng thương bạn nên ra đi làm vầy. Ra đi cha đánh, mẹ ngầy, Không đi bạn ở ngoài này bạn trông. Buồn tình em lắm anh ơi Buồn tình em lắm anh ơi Không phải thiếu tiền, thiếu gạo, chỉ thiếu chiếc chiếu đôi mà buồn Chiếu bông mà trải góc đền Chiếu bông mà trải góc đền Muốn vô làm bé, biết bền hay không Từ rày giã bạn bạn ơi Từ rày giã bạn bạn ơi Chiếu bạn bạn ngồi, trầu bạn bạn ăn Giường lèo Loại giường bằng gỗ quý, chạm trổ công phu, có nguồn gốc từ Lào. Trước đây loại giường này thường được các nhà quyền quý đặt thợ người Lào làm, nên gọi là giường lèo đọc trại chữ Lào. Sau này thợ của ta cũng làm được loại giường này, nhưng vẫn giữ tên giường lèo. Mây Tên chung của khoảng hơn 600 loài dây leo thuộc họ cọ, thân có nhiều gai, mọc nhiều ở các vùng rừng núi nước ta. Gỗ mây rất dẻo, được khai thác để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đồ dùng trong gia đình như bàn, ghế, đan giỏ đựng... Loài mây được trồng và sử dụng nhiều nhất ở nước ta là mây nếp. Dây mây Bể Sở, sông Ngô Ở khắp mọi nơi Sở và Ngô là hai nước thời Xuân Thu, Trung Quốc. Một tay gây dựng cơ đồ, Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành Truyện Kiều Nò Một hệ thống ngư cụ gồm nhiều cọc tre và lưới khá lớn và phức tạp, được đặt ở hướng nước chảy để hứng luồng cá lúc nước ròng. Nò cá nò sáo Tam sơn, tứ hải Chỉ mặt đất. Người xưa cho mặt đất gồm tám phần núi ba, biển bốn, ruộng đất một tam sơn tứ hải nhất phần điền. Tảo tần Cũng như tần tảo, chỉ người phụ nữ khéo thu vén công việc trong nhà. Tần 苹 là bèo, tảo 藻 là rong, hai thứ rau cỏ mọc dưới nước, người Trung Hoa cổ dùng vào việc cúng tế. Thơ "Thái tần" trong Kinh Thi ca ngợi người vợ biết chu toàn việc cúng tế tổ tiên, viết "Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân. Vu dĩ thái tảo, vu bỉ hành lạo" Hái bèo ở đâu, bên bờ khe nam. Hái rong ở đâu, bên lạch nước kia. "Tảo tần" còn chỉ sự vất vả cực khổ. Ra vời Ra khơi đánh bắt cá. Có bản chép chờ lời chàng phân. Đồng Tròn, đồng Quang Tên hai cánh đồng thuộc nay thuộc địa phận Bái Đô, Đô Mỹ, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, Thanh Hóa. Sề Đồ đan mắt thưa, nan thô, rộng, to hơn rổ, thường dùng đựng bèo, khoai... Xảo Đồ đan bằng tre tương tự như giần nhưng có mắt thưa hơn nhiều, thường dùng để lọc lấy thóc và loại bỏ rơm rác. Động tác dùng xảo cũng gọi là xảo. Sàng Đồ đan bằng tre, hình tròn, lòng nông, có lỗ nhỏ và thưa, thường dùng để làm cho gạo sạch thóc, trấu và tấm. Hành động dùng cái sàng mà lắc cho vật vụn rơi xuống, vật to còn lại cũng gọi là sàng. Sàng gạo Chợ phiên Chợ họp có ngày giờ nhất định. Gá duyên Kết thành nghĩa vợ chồng. Cổ đồ bát bửu Bức tranh cổ vẽ tám món đồ quý – xem thêm về Bát bửu. Ngũ sắc, bá huê Năm màu, trăm hoa. Tùng lộc Cây tùng và con nai. Tùng tượng trưng cho sức sống bền bỉ và tuổi thọ, còn nai tượng trưng cho địa vị lộc cũng đồng âm với tài lộc, vì vậy tranh vẽ, tranh khắc gỗ, họa tiết gốm… trong dân gian thường vẽ tùng lộc. Tranh tùng lộc Giường hộc Loại giường phía dưới có hộc có thể kéo ra vào, để đựng quần áo, đồ đạc. Giường Tàu Một loại giường theo kiểu Trung Hoa, có thành cao xung quanh. Gia chủ Chủ nhà từ Hán Việt. Trướng Màn. Ngày xưa, tấm màn che buồng người con gái gọi là trướng. Ngoài ra, theo Thiều Chửu Quân đi đến đâu, căng vải lên làm rạp để nghỉ cũng gọi là trướng. Êm đềm trướng rủ màn che Tường đông ong bướm đi về mặc ai Truyện Kiều Tàn Cũng gọi là tán, đồ dùng có cán dài cắm vào một khung tròn bọc nhiễu hoặc vóc, xung quanh rủ dài xuống, để che cho vua quan thời xưa, hoặc dùng trong các đám rước. Cái tàn vàng. Sáo Còn gọi là mành sáo, là tấm đan bằng tre, có nan to, thường treo trước nhà hoặc gần cửa sổ để che nắng. Sáo cũng có thể được treo trước bàn thờ. Mành sáo Ngầy Phiền nhiễu, bực mình. Rày Nay, bây giờ phương ngữ. Trầu Còn gọi là trầu không, một loại dây leo dùng làm gia vị hoặc làm thuốc. Lá trầu được nhai cùng với vôi tôi hay vôi sống và quả cau, tạo nên một miếng trầu. Ở nước ta có hai loại trầu chính là trầu mỡ và trầu quế. Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, lá nhỏ được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu. Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi. Lá trầu không Một miếng trầu Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.
Những bài ca dao - tục ngữ về "đa thê" Sáu cô đi chợ một xuồng Sáu cô đi chợ một xuồng Tôi chèo theo chính giữa sợ mích lòng sáu cô Phải chi tôi có lúa bồ Tôi xin cưới hết sáu cô một lần Cô hai mua tảo bán tần Cô ba sắc thuốc dưỡng thân mẹ già Cô tư nấu nước pha trà Cô năm coi cửa coi nhà ngoài trong Cô sáu trải chiếu, giăng mùng Cô bảy san sẻ tình chung với mình Phải chi cả sáu cô thuận tình Trai năm thê bảy thiếp, vợ mình đông vui Dị bản Lang thang một dãy sáu cô Cưới cô chính giữa mích lòng năm cô Phải chi tôi có lúa bồ Tôi ra tôi cưới sáu cô một lần Cô hai mua tảo bán tần Cô ba xách nước dưỡng nuôi mẹ già Cô tư dọn dẹp trong nhà Cô năm phân nước pha trà uống chung Cô sáu trải chiếu giăng mùng Cô bảy là nghĩa tình chung với mình Cô bảy phân hết sự tình Trai năm thê bảy thiếp vợ của mình rất đông Ai bì anh có tiền bồ Anh đi anh lấy sáu cô một lần Cô hai buôn tảo bán tần Cô ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa Cô tư dọn dẹp trong nhà Cô năm sắc thuốc, mẹ già cô trông Cô sáu trải chiếu giăng mùng Một mình cô bảy nằm chung với chồng. Trời mưa dưới biển mưa lên Trời mưa dưới biển mưa lên Số anh hai vợ mới nên cửa nhà Tài trai lấy năm lấy bảy Tài trai lấy năm lấy bảy Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng Ấm oái như hai gái lấy một chồng Ấm oái như hai gái lấy một chồng Đàn ông chẳng xứng chút nào Đàn ông chẳng xứng chút nào, Vợ kia vợ nọ biết bao cho vừa Mây muốn mưa mà trời chưa có chuyển Mây muốn mưa mà trời chưa có chuyển Anh muốn gần nàng ngặt một kiểng hai quê Trèo lên cây chót vót cây khô, Trèo lên cây chót vót cây khô Ngó về đồng ruộng thấy bốn cô chưa chồng Cô Hai cấy lúa vừa xong Cô Ba chưa chồng bản ngản bơ ngơ Cô Tư tuổi hãy còn thơ Cô Năm còn dại còn khờ Tôi đây ở vậy mà chờ bốn cô Vái trời cho có lúa bồ Tôi qua cưới hết bốn cô đem về Cô Hai lo tảo bán tần Cô Ba xách nước, dưỡng thân mẹ già Cô Tư xách chổi chăn gà, chăn heo Cô Năm gá nghĩa tình chung với mình Năm thê bảy thiếp chúng mình đông vui Ai ơi chớ lấy chồng chung Ai ơi chớ lấy chồng chung Chồng chung hai vợ một mùng Day qua con vợ nọ, chọc khùng con vợ kia Trong làng bà Tú, bà Cai Trong làng bà Tú, bà Cai Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng Trồng tre ngả ngọn xuống mương Trồng tre ngả ngọn xuống mương Hai dâu về tới, má thương dâu nào? – Dâu nào dâu nấy cũng thương Dâu cũ tầm thường, dâu mới má thương hơn Chị bảo tôi lấy làm Hai Chị bảo tôi lấy làm Hai Suốt một đêm dài chị nói vân vi Nhà chị chẳng thiếu thứ chi Muốn mặc của gì chị sắm cho ngay Bây giờ chị gọi bớ Hai! Mau mau trở dậy thái khoai đâm bèo Thưa chị cám bã còn nhiều Rau khoai em thái từ chiều hôm qua Xin chị cứ ở trong nhà Nồi cơm ấm nước đã là có em Đêm đêm chị nổi cơn ghen Chị phá bức thuận, chị len mình vào Tay chị cầm một con dao Chị nổi máu hồng bào, nhà cửa tan hoang Hầm hầm mặt đỏ như vang Chị la, năm bảy xã làng đổ ra Bà cả, bà bé, bà ba Bà cả, bà bé, bà ba Ba bà dắt díu tìm nhà bà tư Đêm khuya năm vợ ngồi hầu Đêm khuya năm vợ ngồi hầu, Vợ cả pha nước, têm trầu chàng xơi. Vợ hai trải chiếu chàng ngồi, Vợ ba coi sóc nhà ngoài, nhà trong. Vợ tư sửa soạn giăng mùng, Vợ năm dưới bếp trong lòng xót xa. Chè thưng, cháo đậu bưng ra, Chàng xơi một bát kẻo mà hết gân. Dị bản Đêm năm canh năm vợ ngồi hầu Vợ cả quạt nước têm trầu chàng xơi Vợ hai trải chiếu chia bài Vợ ba coi sóc nhà ngoài nhà trong Vợ tư sửa gối chăn mùng Vợ năm đứng đó trong lòng xót xa Chè thang cháo đậu bưng ra Chàng xơi một bát kẻo mà công lênh Một lu mà đựng hai đài Một lu mà đựng hai đài Một chàng hai thiếp ai hoài liệu sao? Một vợ thì nằm giường lèo Một vợ thì nằm giường lèo Có gối tai bèo, sáo rủ, màn treo Hai vợ thì nằm chèo queo Ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm Giàu chi anh mà đòi chính chính, hầu hầu Giàu chi anh mà đòi chính chính, hầu hầu Hôm qua đi ngang cửa ngõ, thấy anh ăn bát canh bầu thế cơm – Anh thường ăn cháo gà, cháo vịt, cháo thịt bồ câu Hôm qua trời nắng anh ăn bát canh bầu cho mát răng Anh cất nhà năm ba cái cửa Anh cất nhà năm ba cái cửa Lấy vợ này vợ nữa cũng xong Ai bày cái cảnh đa thê Ai bày cái cảnh đa thê Để cho phụ nữ trăm bề khổ đau Chị Cả đứng cạnh hàng rào Chị Cả đứng cạnh hàng rào Mong cho chị Bé bước vào cho mau Chị Cả cầm con dao cau Mong gặp chị Bé, đánh nhau phen này Vợ đôi chồng một lạ gì Vợ đôi chồng một lạ gì Mỗi người mỗi bụng ở thì sao nên Dị bản Vợ đôi chồng một ra gì Mỗi người mỗi bụng tao thích thì phá tan hoang Xuồng Thuyền nhỏ không có mái che phương ngữ Nam Bộ. Xuồng ba lá Bồ Đồ cỡ lớn đựng thóc lúa, thường đan bằng tre. Bồ và cối xay thóc Tảo tần Cũng như tần tảo, chỉ người phụ nữ khéo thu vén công việc trong nhà. Tần 苹 là bèo, tảo 藻 là rong, hai thứ rau cỏ mọc dưới nước, người Trung Hoa cổ dùng vào việc cúng tế. Thơ "Thái tần" trong Kinh Thi ca ngợi người vợ biết chu toàn việc cúng tế tổ tiên, viết "Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân. Vu dĩ thái tảo, vu bỉ hành lạo" Hái bèo ở đâu, bên bờ khe nam. Hái rong ở đâu, bên lạch nước kia. "Tảo tần" còn chỉ sự vất vả cực khổ. Chính chuyên Tiết hạnh, chung thủy với chồng từ Hán Việt. Ấm oái Từ mô phỏng tiếng kêu khi chòng ghẹo nhau. Một kiểng hai huê Cũng phát âm thành "một kiểng hai quê" ở Nam Bộ, nghĩa là một cây cảnh có hai bông hoa, nghĩa bóng chỉ chuyện một chồng hai vợ. Gá nghĩa Kết nghĩa gá nghĩa vợ chồng, gá nghĩa anh em, tiếng miền Nam còn đọc trại thành gá ngãi. Tú tài Trong thời kì phong kiến, tú tài là danh hiệu dành cho người thi hương đỗ dưới hàng cử nhân. Người đỗ tú tài thường được gọi là ông Tú, cậu Tú. Vợ họ thì được gọi là cô Tú hoặc bà Tú. Cai Từ gọi tắt của cai vệ, chức danh chỉ huy một tốp lính dưới thời thực dân Pháp. Lính lệ Vân vi Đầu đuôi câu chuyện, đầu đuôi sự tình từ cũ. Đâm Giã, như đâm bèo, đâm tiêu... phương ngữ. Bức thuận Bức vách ngăn giữa các gian, phòng trong những công trình cổ, thường được chạm trổ tinh xảo để trang trí. Tô mộc Còn gọi là vang, tô phượng, vang nhuộm, co vang, mạy vang, một loại cây thân gỗ nhỏ, rất rắn, có phần đỏ nâu ở phần lõi và trắng ở phần ngoài. Gỗ cây được dùng làm vị thuốc đông y, hay làm thuốc nhuộm đỏ. Ở nước ta gỗ tô mộc còn được sử dụng như một thành phần nấu nước rửa hài cốt khi cải táng. Phần lõi gỗ được dùng trong chạm khắc mĩ nghệ. Cây vang Gỗ vang Têm trầu Quệt vôi vào lá trầu không, cuộn lại rồi cài chặt lại bằng cuống lá để thành một miếng trầu vừa miệng ăn. Têm trầu Trầu têm cánh phượng Chè thưng Một món chè thập cẩm phổ biến ở miền Nam. Tùy ý thích người nấu, các loại đậu hay khoai trong món chè thưng có thể thay đổi, nhưng các nguyên liệu được xem cố định là bột báng, rong biển, lá dứa và nước cốt dừa. Chè thưng Công lênh Cũng đọc công linh, công sức bỏ vào việc gì từ cổ. Đài Cái gàu con dùng để kéo nước giếng. Người ta thường làm đài bằng mo cau gấp lại ở hai đầu, cán làm bằng hai thanh tre kẹp lại, gọi là bồ đài. Thiếp Từ Hán Việt chỉ người vợ lẽ, hoặc cách người phụ nữ ngày xưa dùng để tự xưng một cách nhún nhường. Ai hoài Buồn thương và nhớ da diết từ cũ, dùng trong văn chương. Giường lèo Loại giường bằng gỗ quý, chạm trổ công phu, có nguồn gốc từ Lào. Trước đây loại giường này thường được các nhà quyền quý đặt thợ người Lào làm, nên gọi là giường lèo đọc trại chữ Lào. Sau này thợ của ta cũng làm được loại giường này, nhưng vẫn giữ tên giường lèo. Sáo Còn gọi là mành sáo, là tấm đan bằng tre, có nan to, thường treo trước nhà hoặc gần cửa sổ để che nắng. Sáo cũng có thể được treo trước bàn thờ. Mành sáo Chi Gì phương ngữ Trung và Nam Bộ. Đa thê Nhiều vợ từ Hán Việt. Dao cau Thứ dao nhỏ và sắc, dùng để bổ cau. Dao cau Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Ba Bụng.
Một vợ thì nằm giường lèo Một vợ thì nằm giường lèo Có gối tai bèo, sáo rủ, màn treo Hai vợ thì nằm chèo queo Ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm Cùng thể loại Bài thơ thuốc lào Người Việt Nam phải lấy thuốc lào làm quốc tuý Còn thú vị nào hơn thú vị yên vân! Từ vua, quan, đến hạng bình dân, Ai là chẳng bạn thân với điếu Từ ông thừa, trở lên cụ thiếu, Đi ngoài đường, phi điếu bất thành quan. Ngồi công đường, vin xe trúc nghênh ngang, Hút mồi thuốc, óc nhà quan thêm sáng suốt. Nhà thi sĩ gọt câu văn cho chuốt, Tất phải nhờ điếu thuốc gọi hồn thơ. Lại những khi óc mỏi, mắt mờ, Nhờ điếu thuốc mới có cơ tỉnh tớm Dân thuyền thợ thức khuya, dậy sớm, Phải cần dùng điếu đóm làm vui. Khi nhọc nhằn lau trán đẫm mồ hôi, Vớ lấy điếu, kéo một hơi thời cũng khoái. Dân cày cấy mưa dầm, nắng dãi, Bạn tâm giao với cái điếu cày. Lúc nghỉ ngơi, ngồi dưới bóng cây, Rít mồi thuốc, say ngây say ngất. Rồi ngả lưng trên đám cỏ tươi xanh ngắt, Dễ thiu thiu một giấc êm đềm. Bạn nhà binh canh gác thâu đêm, Nhờ điếu thuốc mới khỏi lim dim ngủ gật. Nội các thức say sưa nghiện ngập, Ngẫm mà coi, thú nhất thuốc lào. Nghiện thuốc lào là cái nghiện thanh tao, Chẳng hại tiền của, mà chẳng hao sĩ diện. Chốn phòng khách, anh em khi hội kiến, Có thuốc lào câu chuyện mới thêm duyên. Khi lòng ta tư lự không yên, Hút mồi thuốc cũng giải phiền đôi chút. Nghe tiếng điếu kêu giòn, nhìn khói bay nghi ngút, Nỗi lo buồn theo khói vút thăng thiên. Cái điếu cùng ta là bạn chí hiền, Từ thiên cổ tơ duyên chặt kết. Cũng có kẻ muốn dứt tình khăng khít, Vùi điếu đi cho hết đa mang. Nhưng nỗi nhớ nhung bứt rứt tấm gan vàng, Chút nghĩa cũ lại đa mang chi tận tuỵ. Cho nên bảo điếu thuốc lào là quốc tuý, Thật là lời chí lý không ngoa. Thuốc lào, ta hút điếu ta, Điếu ta thọ với sơn hà muôn năm… Dù anh văn hoá lớp mười Dù anh văn hoá lớp mười Anh chưa ra trận, em thời không yêu Dù anh sắc sảo, mỹ miều Nếu không ra trận, không yêu làm chồng Dị bản Dù em nhan sắc tuyệt vời Em không đánh Mỹ, anh thời không yêu Dù em duyên dáng, mỹ miều Nếu không đánh Mỹ, đừng kêu muộn chồng Vì thằng giặc mỹ Giôn-xơn Vì thằng giặc mỹ Giôn-xơn Nên ta phải vượt Trường Sơn qua Lào Thủ đô xa tự năm nào Giã từ Tam Đảo, vẫy chào Điện Biên Nay mai chiến thắng trăm miền Thủ đô, Tam Đảo, Điện Biên lại về. Thái Bình có chú Phạm Tuân Thái Bình có chú Phạm Tuân Bay vào vũ trụ một tuần về ngay Dị bản Hoan hô đồng chí Phạm Tuân Bay vào vũ trũ một tuần về ngay Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm. Hãy cân nhắc trước khi bấm xem. Học trò đi mò con gái Học trò đi mò con gái Thầy ở nhà xách dái chạy theo Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm. Hãy cân nhắc trước khi bấm xem. Học trò đi mò cá sặc Học trò đi mò cá sặc Thầy ở nhà cắt cặc nấu chua Học trò đi vùa bánh cúng Học trò đi vùa bánh cúng Thầy ở nhà xách thúng chạy theo Đời ôi nhiều nỗi bợn nhơ Đời ôi nhiều nỗi bợn nhơ Mã tà có chú hay quơ hay quào Giận ai gươm chúng phao vào Báo quan nhà nghịch, vây rào xét coi Một đêm chẳng biết mấy chồng Một đêm chẳng biết mấy chồng Chà Và, Ma Ní cũng đồng “lội” qua Ngày thì hớn hở vào ra Ai xa xem thấy chị Ba ngoắt vào Cu cờm cu ngói cu xanh Cu cờm cu ngói cu xanh Cồ cồ xiêm, cồ cồ ta Ba nanh chuối sứ, ba nanh chuối già Có cùng từ khóa Sáu cô đi chợ một xuồng Sáu cô đi chợ một xuồng Tôi chèo theo chính giữa sợ mích lòng sáu cô Phải chi tôi có lúa bồ Tôi xin cưới hết sáu cô một lần Cô hai mua tảo bán tần Cô ba sắc thuốc dưỡng thân mẹ già Cô tư nấu nước pha trà Cô năm coi cửa coi nhà ngoài trong Cô sáu trải chiếu, giăng mùng Cô bảy san sẻ tình chung với mình Phải chi cả sáu cô thuận tình Trai năm thê bảy thiếp, vợ mình đông vui Dị bản Lang thang một dãy sáu cô Cưới cô chính giữa mích lòng năm cô Phải chi tôi có lúa bồ Tôi ra tôi cưới sáu cô một lần Cô hai mua tảo bán tần Cô ba xách nước dưỡng nuôi mẹ già Cô tư dọn dẹp trong nhà Cô năm phân nước pha trà uống chung Cô sáu trải chiếu giăng mùng Cô bảy là nghĩa tình chung với mình Cô bảy phân hết sự tình Trai năm thê bảy thiếp vợ của mình rất đông Ai bì anh có tiền bồ Anh đi anh lấy sáu cô một lần Cô hai buôn tảo bán tần Cô ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa Cô tư dọn dẹp trong nhà Cô năm sắc thuốc, mẹ già cô trông Cô sáu trải chiếu giăng mùng Một mình cô bảy nằm chung với chồng. Trời mưa dưới biển mưa lên Trời mưa dưới biển mưa lên Số anh hai vợ mới nên cửa nhà Tài trai lấy năm lấy bảy Tài trai lấy năm lấy bảy Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng Nằm giường lèo lại đòi trèo trướng phụng Nằm giường lèo lại đòi trèo trướng phụng Dẫu ai trề nhún, nó cũng làm ngang Một khi bị đạp xuống sàn Ngủ chung với chó, còn than nỗi gì Ấm oái như hai gái lấy một chồng Ấm oái như hai gái lấy một chồng Đàn ông chẳng xứng chút nào Đàn ông chẳng xứng chút nào, Vợ kia vợ nọ biết bao cho vừa Mây muốn mưa mà trời chưa có chuyển Mây muốn mưa mà trời chưa có chuyển Anh muốn gần nàng ngặt một kiểng hai quê Trèo lên cây chót vót cây khô, Trèo lên cây chót vót cây khô Ngó về đồng ruộng thấy bốn cô chưa chồng Cô Hai cấy lúa vừa xong Cô Ba chưa chồng bản ngản bơ ngơ Cô Tư tuổi hãy còn thơ Cô Năm còn dại còn khờ Tôi đây ở vậy mà chờ bốn cô Vái trời cho có lúa bồ Tôi qua cưới hết bốn cô đem về Cô Hai lo tảo bán tần Cô Ba xách nước, dưỡng thân mẹ già Cô Tư xách chổi chăn gà, chăn heo Cô Năm gá nghĩa tình chung với mình Năm thê bảy thiếp chúng mình đông vui Ai ơi chớ lấy chồng chung Ai ơi chớ lấy chồng chung Chồng chung hai vợ một mùng Day qua con vợ nọ, chọc khùng con vợ kia Trong làng bà Tú, bà Cai Trong làng bà Tú, bà Cai Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng Giường lèo Loại giường bằng gỗ quý, chạm trổ công phu, có nguồn gốc từ Lào. Trước đây loại giường này thường được các nhà quyền quý đặt thợ người Lào làm, nên gọi là giường lèo đọc trại chữ Lào. Sau này thợ của ta cũng làm được loại giường này, nhưng vẫn giữ tên giường lèo. Sáo Còn gọi là mành sáo, là tấm đan bằng tre, có nan to, thường treo trước nhà hoặc gần cửa sổ để che nắng. Sáo cũng có thể được treo trước bàn thờ. Mành sáo Thuốc lào Theo học giả Đào Duy Anh, cây thuốc lào có lẽ từ Lào du nhập vào Việt Nam nên mới có tên gọi như thế. Sách Vân Đài loại ngữ và Đồng Khánh dư địa chí gọi cây thuốc lào là tương tư thảo cỏ nhớ thương, vì người nghiện thuốc lào mà hai, ba ngày không được hút thì trong người luôn cảm thấy bứt rứt khó chịu, trong đầu luôn luôn nghĩ đến một hơi thuốc, giống như nhớ người yêu lâu ngày không gặp. Thời xưa, ngoài "miếng trầu là đầu câu chuyện," thuốc lào cũng được đem ra để mời khách. Hút thuốc lào cũng gọi là ăn thuốc lào cần có công cụ riêng gọi là điếu. Thuốc lào thường được đóng thành bánh để lưu trữ, gọi là bánh thuốc lào. Hút thuốc lào bằng ống điếu Quốc túy Cái đặc sắc về tinh thần hoặc vật chất của một dân tộc. Yên vân Khói yên mây vân. Thừa Một chức vụ nhỏ trong các nha phủ dưới thời phong kiến. Phi điếu bất thành quan Không có điếu cày không thể thành quan. Đa mang Tự vương vấn vào nhiều tình cảm để rồi phải đeo đuổi, vấn vương, dằn vặt không dứt ra được. Thôi em chả dám đa mang nữa Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng Xuân tha hương - Nguyễn Bính Sơn hà Núi sông từ Hán Việt. Từ cũ, nghĩa rộng dùng để chỉ đất nước. Nam quốc sơn hà Nam Đế cư Tiệt nhiên phận định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư Lý Thường Kiệt Dịch thơ Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. Hệ giáo dục phổ thông miền Bắc từ năm 1956 đến năm 1985 chia làm ba cấp cấp I bốn năm, cấp II và cấp III mỗi cấp ba năm, tổng cộng là mười năm. Giôn-xơn Lyndon Baines Johnson, tổng thống thứ 36 của Mỹ, nắm giữ hai nhiệm kì từ năm 1963 đến năm 1969. Ông này chủ trương đẩy mạnh sự can thiệp của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, mà tiêu biểu là việc triển khai quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Tổng thống Mỹ Johnson Trường Sơn, Lào, Thủ Đô, Tam Đảo, Điện Biên đều là tên của các nhãn hoặc loại thuốc lá phổ biến ở miền Bắc vào những năm 1960-1970. Thuốc lá Điện Biên Thái Bình Địa danh nay là một tỉnh ven biển ở đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội khoảng 110 km. Phần đất thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay trước đây thuộc về trấn Sơn Nam. Tới năm Thành Thái thứ hai 1890 tỉnh Thái Bình được thành lập. Tỉnh có nhiều khu du lịch và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như bãi biển Đồng Châu, cồn Vành, chùa Keo... Các ngành nghề truyền thống như chạm bạc, làm chiếu ở đây cũng khá phát triển. Ngoài ra, Thái Bình còn được mệnh danh là Quê Lúa. Bãi biển Đồng Châu Cá sặc Một loại cá đồng, có rất nhiều ở vùng Tây Nam Bộ vào mùa nước nổi. Người dân Nam Bộ thường đánh bắt cá sặc để làm khô cá, mắm sặc, hoặc nấu thành nhiều món ăn ngon như gỏi, cháo, canh chua bông súng... Khô cá sặc Vùa Gom góp hết về phía mình. Từ này ở miền Trung và miền Nam được phát âm thành dùa. Mã tà Lính cảnh sát thời thuộc địa. Nguồn gốc của từ này đến nay vẫn chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng từ này có gốc từ tiếng Mã Lai là mata-mata, có nghĩa là "cảnh sát," lại có người cho rằng xuất xứ từ này là matraque, tiếng Pháp nghĩa là cái dùi cui. Chà Và Việt hóa từ âm chữ Java, chỉ đảo Java ở Indonesia. Nhưng do từ xưa, người Việt chưa phân biệt rõ về địa lý và nhân chủng của khu vực biển đảo phía nam nên dùng từ "người Chà Và" để gọi chung những người có nguồn gốc từ Ấn Độ, Malaysia, Indonesia di cư đến Việt Nam. Ma Ní Còn gọi Ma Ni, tức người từ Manille thủ đô Philippines, xưa ta gọi là Phi Luật Tân, Lữ Tống, trước làm lính thuộc địa của Tây Ban Nha, được Pháp thuê trong thời kì đô hộ nước ta. Theo bài Tính chất phản kháng trong thơ văn bình dân Nam-kỳ thời Pháp thuộc của Long Điền "Cồ cồ" tức coco là trái dừa, "ba nanh" tức banane là trái chuối. Quần chúng đã kết hợp tài tình hai thứ tiếng để chế giễu bọn bồi bếp, bọn ăn học chẳng ra gì nhưng lại được thực dân trọng dụng. Xuồng Thuyền nhỏ không có mái che phương ngữ Nam Bộ. Xuồng ba lá Bồ Đồ cỡ lớn đựng thóc lúa, thường đan bằng tre. Bồ và cối xay thóc Tảo tần Cũng như tần tảo, chỉ người phụ nữ khéo thu vén công việc trong nhà. Tần 苹 là bèo, tảo 藻 là rong, hai thứ rau cỏ mọc dưới nước, người Trung Hoa cổ dùng vào việc cúng tế. Thơ "Thái tần" trong Kinh Thi ca ngợi người vợ biết chu toàn việc cúng tế tổ tiên, viết "Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân. Vu dĩ thái tảo, vu bỉ hành lạo" Hái bèo ở đâu, bên bờ khe nam. Hái rong ở đâu, bên lạch nước kia. "Tảo tần" còn chỉ sự vất vả cực khổ. Chính chuyên Tiết hạnh, chung thủy với chồng từ Hán Việt. Trướng Màn. Ngày xưa, tấm màn che buồng người con gái gọi là trướng. Ngoài ra, theo Thiều Chửu Quân đi đến đâu, căng vải lên làm rạp để nghỉ cũng gọi là trướng. Êm đềm trướng rủ màn che Tường đông ong bướm đi về mặc ai Truyện Kiều Ấm oái Từ mô phỏng tiếng kêu khi chòng ghẹo nhau. Một kiểng hai huê Cũng phát âm thành "một kiểng hai quê" ở Nam Bộ, nghĩa là một cây cảnh có hai bông hoa, nghĩa bóng chỉ chuyện một chồng hai vợ. Gá nghĩa Kết nghĩa gá nghĩa vợ chồng, gá nghĩa anh em, tiếng miền Nam còn đọc trại thành gá ngãi. Tú tài Trong thời kì phong kiến, tú tài là danh hiệu dành cho người thi hương đỗ dưới hàng cử nhân. Người đỗ tú tài thường được gọi là ông Tú, cậu Tú. Vợ họ thì được gọi là cô Tú hoặc bà Tú. Cai Từ gọi tắt của cai vệ, chức danh chỉ huy một tốp lính dưới thời thực dân Pháp. Lính lệ
Những bài ca dao - tục ngữ về "giường lèo" Nằm giường lèo lại đòi trèo trướng phụng Nằm giường lèo lại đòi trèo trướng phụng Dẫu ai trề nhún, nó cũng làm ngang Một khi bị đạp xuống sàn Ngủ chung với chó, còn than nỗi gì Một vợ thì nằm giường lèo Một vợ thì nằm giường lèo Có gối tai bèo, sáo rủ, màn treo Hai vợ thì nằm chèo queo Ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm Trăng rằm mười sáu trăng treo Trăng rằm mười sáu trăng treo Anh đóng giường lèo cưới vợ Nha Trang Giường lèo mà trải chiếu mây Giường lèo mà trải chiếu mây Làm trai hai vợ như dây buộc mình Giường lèo Loại giường bằng gỗ quý, chạm trổ công phu, có nguồn gốc từ Lào. Trước đây loại giường này thường được các nhà quyền quý đặt thợ người Lào làm, nên gọi là giường lèo đọc trại chữ Lào. Sau này thợ của ta cũng làm được loại giường này, nhưng vẫn giữ tên giường lèo. Trướng Màn. Ngày xưa, tấm màn che buồng người con gái gọi là trướng. Ngoài ra, theo Thiều Chửu Quân đi đến đâu, căng vải lên làm rạp để nghỉ cũng gọi là trướng. Êm đềm trướng rủ màn che Tường đông ong bướm đi về mặc ai Truyện Kiều Sáo Còn gọi là mành sáo, là tấm đan bằng tre, có nan to, thường treo trước nhà hoặc gần cửa sổ để che nắng. Sáo cũng có thể được treo trước bàn thờ. Mành sáo Nha Trang Một địa danh thuộc tỉnh Khánh Hòa, hiện là một thành phố biển nổi tiếng không chỉ ở nước ta mà trên cả thế giới về du lịch biển, đồng thời là một trong những trung tâm kinh tế của cả nước. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tên "Nha Trang" được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là Ya Trang hay Ea Trang có nghĩa là "sông Lau," tiếng người Chăm gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, vì chỗ con sông này đổ ra biển mọc rất nhiều cây lau. Từ tên sông, sau chỉ rộng ra vùng đất từ năm 1653. Vẻ đẹp Nha Trang Mây Tên chung của khoảng hơn 600 loài dây leo thuộc họ cọ, thân có nhiều gai, mọc nhiều ở các vùng rừng núi nước ta. Gỗ mây rất dẻo, được khai thác để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đồ dùng trong gia đình như bàn, ghế, đan giỏ đựng... Loài mây được trồng và sử dụng nhiều nhất ở nước ta là mây nếp. Dây mây
một vợ nằm giường lèo